Trương Vĩnh Ký

Sự tích những tên địa danh ở Sài Gòn

Lăng Ông Bà Chiểu

Tọa lạc tại số 1, đường Vũ Tùng thuộc phường 1, quận Bình Thạnh, Lăng Ông Bà Chiểu nằm tĩnh lặng và trầm mặc ngắm nhìn thành phố trẻ ngày một náo nhiệt, hiện đại hơn.

Lăng Ông Bà Chiểu (gọi tắt là Lăng Ông, còn có tên gọi khác ít phổ biến hơn là Thượng Công Miếu) là khu lăng mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt. Chính vì tên gọi đặc biệt mà nhiều người thường hiểu lầm rằng lăng này được lập ra để thờ Ông và thờ Bà tên Chiểu. Thật ra, đây là lăng thờ Tả Quân Lê Văn Duyệt và do tục lệ kiêng cử tên, cho nên thường gọi là Lăng Ông. Lăng lại nằm kế bên khu chợ Bà Chiểu, và đó là nguồn gốc ra đời của cái tên Lăng Ông Bà Chiểu.

Thị Nghè

Điểm qua tên của một số địa danh, kênh rạch, phường ở khu vực quận 1, người ta sẽ dễ dàng nghe đi nghe lại cái tên Thị Nghè, có khi xuất hiện dưới tên của một con rạch, cây cầu, lại có khi xuất hiện như một ngôi chợ, một nhà thờ. Ngoài ra, phần địa giới gồm một phần các phường 17, 19, 21 thuộc quận Bình Thạnh cũng được gọi là Thị Nghè.

Theo quyển “Gia Định thành thông chí”, mục “Trấn Phiên An”, Thị Nghè là tên dân gian của bà Nguyễn Thị Khánh – con gái quan Khâm sai Nguyễn Cửu Vân, và là vợ một viên thư kí. Bà Nguyễn Thị Khánh có chồng là thư kí mỗ, nên người đương thời gọi là Bà Nghè mà không xưng tên. Sở dĩ có tên ấy là do bà đã có công cho khai hoang đất ở và bắc cầu để tiện việc đi lại cho dân chúng. Cảm phục bà, người ta quyết định gọi cây cầu là cầu Bà Nghè, cũng gọi sông ấy là sông Bà Nghè.

Cho đến ngày nay, cái tên Thị Nghè vẫn còn được giữ lại như một cách hậu thế ghi nhớ công đức của bà Nguyễn Thị Khánh.

Bến Nghé

Tên Bến Nghé, ban đầu là tên của một bến nước, sau chỉ một con sông, cuối cùng dùng chỉ một địa phương (vùng trung tâm TP.HCM hiện nay). Để giải thích cái tên Bến Nghé, hiện có hai thuyết:

Thứ nhất, theo phó bảng Nguyễn Văn Siêu trong cuốn “Phương Đình dư địa chí” (1900) thì tương truyền, sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế (nghé tức trâu con). Sách “Đại Nam nhất thống chí”, phần tỉnh Gia Định, cũng chép tương tự.

Còn theo học giả Trương Vĩnh Ký, Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer – Kompong có nghĩa là bến, Kon Krabei có nghĩa là con trâu. Nhà địa danh học Lê Trung Hoa cũng đồng ý rằng: Bến Nghé là cái bến mà “người ta thường cho trâu, bò ra tắm” vì có nhiều địa danh cấu tạo bằng “bến + tên thú” như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé).
Thủ Thiêm

Đa số tên gọi cho các con đường, cây cầu, phường, chợ… ở Sài Gòn đều lấy tên những người có công với đất nước, thành phố hoặc đơn giản là chỉ với người dân của khu vực đó. Có vẻ như Thủ Thiêm không phải là một cái tên được đặt theo công thức trên.

Trước đây, “thủ” là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông. Vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay như Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An) hay Thủ Dầu Một (Bình Dương). Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa được cho là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Đakao

Đakao – tên gọi mà biết bao người Sài Gòn đã quen mặt, một cái tên gây ấn tượng mạnh mẽ khi vừa nghe thì giống tên Việt Nam nhưng khi viết thì lại mang đậm dáng dấp phương Tây.

Thời xưa, có giai đoạn hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn được sáp nhập lại thành “Địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn” (Région de Saigon – Cholon) với tổ chức bên dưới là các hộ (quartier), tương đương cấp tổng ở các tỉnh. Người đứng đầu một hộ gọi là Hộ trưởng (Chef de quartier). Tên gốc của vùng đất Đakao ngày nay là Đất Hộ (đất của hộ hoặc đất do hộ quản lí). Trong sách báo và các văn bản thời trước, người Pháp đã phiên âm địa danh Đất Hộ thành Đakao. Trên thực tế, địa danh Đakao chỉ phổ biến rộng tại Sài Gòn từ thập niên 1950 – 1960 trở về sau.
Kênh Tàu Hủ

Với tổng chiều dài 22km, vắt ngang giữa TP.HCM và trải dài trên địa bàn 8 quận huyện, kênh Tàu Hủ khiến không ít người thắc mắc về nguồn gốc cái tên “nghe thôi đã thèm” trong khi quanh khu vực này không hề có truyền thống làm tàu hủ?

Theo học giả Trương Vĩnh Ký (viết năm 1885) và Huỳnh Tịnh Của (viết cuối thế kỷ 19), thì đoạn phố đi ngang qua rạch Chợ Lớn được gọi là Tàu Khậu, đó là cách người Triều Châu phát âm từ “thổ khố” (khu nhà gạch), sau trại âm thành Tàu Hủ. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, nhìn kinh nước đen và những “món phụ gia” trôi nổi trên ấy, rất hôi thối, mà người dân liên tưởng đến tương chao, tàu hủ cho có phần… thi vị, nên gọi như vậy.
Kênh Tàu Hủ chưa bao giờ mang vẻ đẹp thơ mộng làm say đắm người nhìn, nhưng nó vẫn nằm sâu trong tiềm thức của người Sài Gòn với hình ảnh thuyền lớn thuyến nhỏ buôn bán tấp nập và cả một giai đoạn lịch sử đặc biệt .
Ngã tư Bảy Hiền

Là nút giao thông quan trọng thuộc phường 4, quận Tân Bình, ngã tư Bảy Hiền không chỉ gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của người dân Sài Gòn năm xưa mà còn mang một chút gì đó bí ẩn đằng sau tên gọi dân dã, gần gũi Bảy Hiền.

Theo Lê Minh Quốc trong sách “Người Quảng Nam”, vùng Bảy Hiền nổi tiếng với làng dệt do những cư dân Quảng Nam vào đây lập nghiệp (sau năm 1954). Theo đó, Bảy Hiền là tên của ông già bán cà phê “cóc” sinh thứ Bảy, tên Hiền. Được biết, ông Bảy Hiền này cai quản các đồn điền cao su của Nam Phương hoàng hậu, tức Nguyễn Hữu Thị Lan – phu nhân vua Bảo Đại.
Đến khoảng năm 1940, người Sài Gòn dần lược bỏ chữ “ông” trong tên gọi, thành ra “ngã tư Bảy Hiền” cho đến ngày nay.

Cầu Chà Và

Với bề dày lịch sử hơn 100 năm, cây cầu Chà Và bắc qua kênh Tàu Hủ đã góp phần thông thương vùng Chợ Lớn giữa quận 8 và quận 5. Cầu Chà Và có chiều rộng khoảng 30m, chiều dài 190m, có thêm 2 nhánh phụ lên xuống đại lộ Đông Tây, đảm bảo các phương tiện đi trên cầu không giao cắt nhau nhằm hạn chế tối đa kẹt xe.

Thật ra, Chà Và là cách người Việt phát âm chữ Java – tên một hòn đảo ở Indonesia. Chà Và dùng để chỉ người đến từ đảo Java, về sau dùng để gọi tất cả những người có màu da ngăm như Chà Bom Bay (Bombay, Ấn Ðộ), Chà Ma Ní (Manila, Philippines). Thế mới rõ vì sao khu vực cầu Chà Và từng là phố chợ của người gốc Ấn Độ chuyên bán vải lại được gọi thành Chà Và. Ngoài ra, ở đầu cầu Chà Và về phía quận 8 có rạp hát Phi Long nổi tiếng, thường xuyên chiếu phim Ấn Độ phục vụ cư dân quanh vùng.

Vòng xoay Cây Gõ (cầu vượt thép chữ Y)

Vòng xoay Cây Gõ là một trong những nút giao thông quan trọng thuộc quận 6 (TP. HCM) và thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc khi chưa xây dựng cầu vượt thép. Đây là điểm giao giữa các tuyến đường, Hồng Bàng, Phú Thọ, 3/2.
Lý giải về tên gọi Cây Gõ được đặt tại vòng xoay này, cũng không có nhiều tài liệu ghi chép lại, tuy nhiên nhiều người dân sống lâu năm ở đây cho biết trước đây ở khu vực này khi chưa được khai hoang, cây cối vẫn mọc um tùm, điển hình nhất là loài cây gõ. Về sau khu vực này được khai hoang, hàng loạt cây gõ cũng được chặt bỏ để xây dựng đô thị. Vòng xoay cũng được hình thành và người dân đặt tên vòng xoay Cây Gõ để tạo sự thân quen.

Năm 2013, cầu vượt chữ Y được xem là cầu vượt thép dài nhất thành phố chính thức khánh thành, đã giảm tải được áp lực giao thông tại khu vực này.

Ngã năm Chuồng Chó (ngã 6 Gò Vấp)

Đây là điểm giao thông cũng thường xuyên xảy ra ùn tắc thuộc phường 3 (quận Gò Vấp) với các tuyến đường giao nhau gồm Nguyễn Kiệm, Nguyễn Oanh, Quang Trung, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Văn Nghi, Trần Thị Nghĩ.

Nói về sự tích ngã năm Chuồng Chó, sở dĩ có tên gọi hơi lạ như vậy vì trước năm 1975 khu vực này từng tồn tại một trường huấn luyện chó. Người dân khi đi qua giao lộ này cũng quen miệng gọi với cái tên ngã năm Chuồng Chó từ đó, thậm chí cho đến ngày nay vẫn gọi mặc dù đã đổi tên mới.

Sau năm 1975, trường huấn luyện chó này được xây dựng lại để làm nhà ở. Ngã năm Chuồng Chó cũng được nâng cấp mở rộng thành ngã 6 Gò Vấp.

Cũng theo một tài liệu cũ khác, nút giao thông này vào thời Pháp được gọi là ngã năm Hàng Điệp vì dọc theo 5 tuyến đường lúc bấy giờ có trồng những cây điệp to cao trông rất đẹp mắt. Đến khi xây dựng trường huấn luyện chó người dân mới dần chuyển sang gọi ngã năm Chuồng Chó.

Ngã tư Hàng Xanh

Điểm nút giao thông nổi tiếng để các tỉnh miền Đông Nam Bộ và miền Trung đi vào trung tâm TP. HCM. Giao lộ này thuộc quận Bình Thạnh giữa các tuyến đường Điện Biên Phủ (một phần của Xa lộ Hà Nội) và đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (nối với Quốc lộ 13). Do lượng xe ngày càng đông, vào đầu năm 2013, một cầu vượt bằng thép được khánh thành để hạn chế ùn tắc tại đây.

Tên gọi Hàng Xanh như hiện tại, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thực chất là Hàng Sanh mới chuẩn xác. Trước năm 1945, vùng này trồng rất nhiều cây sanh (một cây thuộc họ Dâu tằm) và có chung gốc gác với loại cây si, đa và đề. Cây sanh được trồng nhiều nhất ở đường Bạch Đằng và kéo dài đến ngã tư này, cũng vì thế lúc đó người ta vẫn hay gọi đường Bạch Đằng là đường Hàng Sanh.

Vào những năm 60 của thế kỉ trước, đường Bạch Đằng và ngã tư sát đó được đặt tên chính thức là Hàng Sanh. Về sau theo tiếng địa phương người dân gọi quen thành Hàng Xanh và tồn tại đến bây giờ.

Vòng xoay Lăng Cha Cả (ngã 6 Cộng Hòa)

Vòng xoay này nằm gần Ngã tư Bảy Hiền cũng thuộc phường 4 (quận Tân Bình), một trong những nút giao thông quan trọng của TP. HCM. Đây là điểm giao cắt của một số trục đường lớn như Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân. Vòng xoay được xây dựng khá nổi bật với quả địa cầu hai màu xanh, đỏ, đường kính khoảng 2 mét.
Theo tư liệu được ghi chép lại, nơi đây vốn là khu vực lăng mộ 2.000 m2 của giám mục người Pháp có tên Bá Đa Lộc.

Ông Bá Đa Lộc tên thật là Pierre Pigneaux (sinh năm 1741, quốc tịch Pháp). Năm 1765, sau khi ông được sắc phong linh mục thì sang Việt Nam truyền giáo và phò tá Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Trong trận vây thành Quy Nhơn – Thị Nại năm 1799, Bá Đa Lộc qua đời, ông được đưa về an táng ở gần nhà cũ thuộc thành Gia Định, nằm khu Vườn Xoài – Tân Sơn Nhất, phía Tây Bắc Sài Gòn. Được trọng vọng, coi như bậc công thần có công lớn nên Nguyễn Ánh cho xây khu lăng mộ Bá Đa Lộc bề thế.

Sang thế kỉ 20, nơi này được sáp nhập vào vùng ngoại ô Sài Gòn, sau đó được phát triển với việc xây dựng sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (phía bắc Lăng Cha Cả), bến xe lớn (phía tây). Với những thay đổi này, ngôi lăng bị thu hẹp lại làm điểm tròn nằm lọt giữa đường Võ Tánh, tuy vậy khu mộ vẫn được giữ gìn đến năm 1980.

Từ năm 1980 – 1983, khu lăng mộ này được giải tỏa và di hài của Giám mục Bá Đa Lộc được giao lại cho tổng lãnh sự Pháp đưa về nước. Còn lại là điểm tròn làm vòng xoay (bùng binh) lưu thông trên đường Hoàng Văn Thụ – Lê Văn Sỹ ngày nay và người dân vẫn quen gọi với tên vòng xoay Lăng Cha Cả. Về sau nơi này được gọi với tên ngã 6 Cộng Hòa khi được xây dựng cầu vượt vào năm 2013 để giảm ùn tắc giao thông.

Ngã ba Chú Ía (Vòng xoay Nguyễn Thái Sơn)

Đến hiện tại, người dân vẫn hay gọi khu vực này là ngã 6 Chú Ía. Giao lộ này được xem là nỗi kinh hoàng về tình trạng ùn tắc giao thông vào giờ tan tầm ở TP. HCM hiện tại. Đây là điểm nối giữa các tuyến đường Nguyễn Kiệm, Nguyễn Thái Sơn, Hoàng Minh Giám, Phạm Văn Đồng thuộc phường 3 (quận Gò Vấp).

Một nhà nghiên cứu lịch sử cho hay, trước 1975, Hía là tên của một người Hoa làm nghề thủ công và có cửa hàng Bách hoá lớn ở khu vự ngã 3 này nên người Sài Gòn gọi khu vực này thành ngã ba Chú Hía. Trải qua thời gian, người dân nhập cư vào đây rồi phát âm này dần biến mất chỉ còn “Chú Ía” cho đến nay.

Hiện tại, ngã ba Chú Ía mở rộng thành ngã 6 với tên gọi mới là Ngã Sáu Nguyễn Thái Sơn, khi xuất hiện vòng tròn ở giữa thì gọi vòng xoay Nguyễn Thái Sơn. Tuy nhiên với nhiều người Sài Gòn, họ vẫn quen với tên gọi ngã ba Chú Ía, một số người thì gọi ngã 6 Chú Ía khi qua khu vực này